Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Ma-ni-ven

Chuyên tầm phào, số ... : Ma-ni-ven
Hồi trước, trong giới lái xe công trường hay xài một chữ nghe rất Tây: ma-ni-ven.
Thật ra đó là tiếng Pháp, “manivelle“ nghĩa là cái tay quay.
Thời ấy máy móc còn đơn sơ, nhiều thứ phải quay bằng tay: Quay máy nổ, quay máy xay lúa, quay máy phát điện… nói chung cái gì cần nổ mà chưa chịu nổ thì đem ma-ni-ven ra quay.
Nhưng ở công trường tụi tui hồi đó, ma-ni-ven còn có thêm một công dụng khác: Quay ra… nhiều lý do để giúp cho giới công nhân tiên tiến - những chủ nhân của thời đại mới - sống sót qua ngày !
Câu chuyện sau đây là một lần cái ma-ni-ven phát huy tác dụng rất ư là … hiệu quả:
Khi đói triền miên thì phải thèm. Mà đã thèm thì nghĩ đủ thứ: Nghĩ đến các món ngon nhứt… rồi giựt mình nhớ lại là phải rẻ nhứt!
Ngặt nỗi thời bao cấp, lương công nhân ở công trường ba cọc ba đồng. Sống được chẳng qua nhờ giỏi chịu đựng, và có lẽ cũng nhờ cái triết lý rất thời sự lúc đó: “Gặp thời thế thế thời phải thế !”
Xăng dầu thì hiếm. Có tiền cũng chưa chắc mua được, mà nếu có, bán thì cũng lén rình bán chui bán nhủi chút đỉnh kiếm vài ba đồng.
Bữa đó trời mưa lâm thâm trên quốc lộ 1, đoạn qua Hảo Sơn gần đèo Cả. Con đường vắng vẻ buồn thiu, mưa gió đến nỗi chó cũng không muốn lội ra đường.
Nghĩ mãi không ra cớ gì để nghỉ. Những lý do xin nghỉ sửa xe đã dùng hết rồi.
Bèn nghĩ bừa ra một cái cớ rất… kỹ thuật: Xin sửa cái ma-ni-ven.
Ma-ni-ven hư thì xe không chạy được!
Ông đội trưởng là người đi tập kết về. Nghe đâu hồi còn ở ngoải làm tổ trưởng vá đường, trong Nam gọi là phu lục lộ. Chữ nghĩa chắc hổng bao nhiêu, nếu bẻ làm đôi chắc được hai miếng, cỡ… bàn tay. Cho nên cái tiếng Pháp ma-ni-ven là cái gì thì ổng đâu có biết.
Nhưng ổng vẫn phải thể hiện uy quyền bằng cách lên giọng rầy tụi tui:
- Mấy ông vừa chạy vừa phá, không biết giữ gìn tài sản máy móc gì hết! Cứ đợi hư rồi mới kêu sửa. Mà… liệu sửa bao lâu thì xong?
Tui đáp liền:
- Dạ, em với thằng lơ cố lắm đến chiều cũng có thể xong!
Ổng gật gù, rồi giảng một bài rất… lý luận:
- Làm hết sức đi! Đầu giờ chiều phải trình diện tui là xong đó. Nhớ rằng làm công nhân lái xe lái máy, quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa thì cái xe là xương là thịt, xăng dầu là máu. Xương thịt tan tành thì máu cũng chảy ra ngoài hết!
Hai thằng tụi tui “dạ dạ” cho phải phép rồi te te đi về cái lán có mái tranh che mưa nắng. Chui vô cabin, phì phèo thuốc rê một hồi, rồi trùm tấm mền rách ngủ quẹo cổ.
Ngủ tới khi nhà bếp gõ kẻng ăn cơm trưa.
Ăn ba hột cơm cõng bốn hột bắp, bụng còn lưng lửng. Đói nên lại nghĩ lung tung, thèm đủ thứ.
Qua khỏi đầu giờ chiều, tay bôi chút nhớt thải, tui lò dò lên đội chỉ huy công trường. Chưa kịp nói gì ổng đã la:
- Gì nữa đây? Vừa làm vừa chơi nên chưa xong hả?
Tui gãi đầu gãi cổ:
- Dạ… xong thì gần xong, nhưng xin anh duyệt cấp xăng chạy thử ma-ni-ven.
- Bao nhiêu?
- Dạ… 30 lít.
Ổng trợn mắt:
- Gì mà 30 lít! Nhiều vậy! Thử cái đó chỉ cần… 20 lít là đủ!
Hai thằng tụi tui mừng húm: 20 lít xăng hôm đó không những đủ nguyên con chó, mà còn kèm thêm một can rượu đế.
Tối hôm ấy trời vẫn mưa. Cái ra-đi-ô rè rè nói có áp thấp nhiệt đới.
Nhưng trong cái lán công trường thì ấm lạ, ấm lùng.
Thỉnh thoảng lại nghe anh em hô:
- Dô! Dô! Một hai ba… ma-ni-ven!
Sáng hôm sau, đội trưởng hỏi:
- Đêm qua tụi bây làm gì mà ồn ào vậy?
Tui lễ phép thưa:
- Dạ… anh em khen và chúc mừng em làm tốt. Sửa ma-ni-ven nhanh và gọn gàng quá.
Từ đó tui mới biết: Có những thứ trong đời, hư thiệt chưa chắc sửa được ... nhưng hư do tưởng tượng thì sửa rất nhanh !

Phú Đặng

Bún Gỏi Dà

( introduction: Người sáng tạo và đem ra giới thiệu với thiên hạ một món ăn có mùi hương khá thuần khiết, vị lại tinh tế kiểu chay mặn đề huề: Bún Gỏi Dà.
Cái tên nghe lạ quá nên trước đây đài truyền hình Vĩnh Long cũng từng mò tới phỏng vấn bà chủ-Chị Tư : “Ủa, gỏi dà là gỏi gì vậy?”
Câu trả lời xin để cuối bài cho có hồi hộp chút.
Giờ mời bà con… ngồi xuống, ngó qua một vòng mùi-vị-màu sắc, rồi tiện thể ngó luôn cái không gian quán.)

Bún Gỏi Dà
Quán mang phong vị gần giống một quán chay: Yên tĩnh, sạch sẽ, màu sắc trang nhã, ấm áp. Trên vách còn treo vài câu lục bát nghe hiền hiền, kiểu lời răn đượm mùi Phật giáo. Bước vô đây tự nhiên nói chuyện cũng nhỏ giọng lại, không dám ồn ào như mấy quán khác.
Tô bún bưng ra nhìn cũng có ý tứ phối màu. Cọng bún nhỏ nằm bơi lặn dưới lớp nước lèo trong veo. Chừng non mươi con tôm đất bóc vỏ đỏ au nằm kế bên nhúm thịt ba rọi xắt sợi mảnh trắng ngà. Chung quanh là xà lách, rau thơm xanh mát, coi thôi cũng thấy dễ chịu con mắt.
Nhìn thêm chút nữa, thấy bụng mình … bắt đầu lên tiếng !
Mùi bắt đầu dậy khi trộn lên.
À thì ra cái hồn của tô bún nằm ở chỗ này: Tương hột xay nhuyễn, trộn với đậu phộng rang giã dập lẫn lộn như hạt tấm đậu trộn thính.
Vừa trộn xong, nước lèo từ màu trong chuyển sang màu nâu nhẹ.
Mùi tương thơm dìu dịu, hơi hướng chay tịnh lấn át cái mặn thô.
Cắn con tôm đất tươi lột vỏ thấy ngọt nhẹ. Tới sợi thịt ba rọi cũng như chịu khó… hoà đồng, thấm theo vị tương.
Thành ra trong tô bún này, chay với mặn, sống chung coi bộ khá hoà thuận !
Húp thử một muỗng nước lèo.
Không phải cái kiểu ngon làm nước miếng ứa ra liền như mấy món bún mắm, bún nước lèo. Mà là cái vị nhẹ nhàng, thanh thanh. Thành ra ăn cũng tự nhiên chậm lại. Có muốn ăn nhanh cũng… thấy tiếc !
Ăn riết một hồi, tự nhiên thấy mình cũng hiền ra chút !
Ngồi vừa ăn vừa ngửi cái mùi thơm đó, tự nhiên thấy dễ chịu trong người. Cái mùi này nói thiệt, cảm thì được chớ diễn đạt ra lời cũng hơi khó.
Mà nói nhiều quá coi chừng lại làm … mất mùi !
Ăn xong, tôi mới hỏi chuyện chị Tư-bà chủ quán, cũng là người nghĩ ra món này.
Chị kể hồi trước quán chỉ bán bún với hủ tiếu chay.
Mà ở xứ Sóc Trăng, dù Phật giáo khá đông, người ta vẫn quen mấy món “quốc dân” như bún nước lèo, bún mắm hơn.
Chị Tư tu tại gia. Nhưng tu thì tu, sinh kế vẫn phải lo.
Vậy là chị bắt đầu mày mò nghĩ món mới.
Nhờ cái tánh kỹ lưỡng; bệnh nghề nghiệp còn sót lại từ hồi làm nhân viên vẽ họa đồ nên chị chọn nguyên liệu rất gắt:
Tôm phải là tôm đất còn sống, luộc rồi bóc vỏ bỏ đầu.
Thịt ba rọi phải thiệt tươi.
Rau thì lấy từ vườn, lúc nào cũng xanh mướt.
Tô bún làm ra nhìn đẹp mắt thiệt. Nhưng cái khác biệt chỉ lộ ra khi mình… trộn lên rồi ăn.
Dần dần khách biết tới nhiều hơn.
Dù giá một tô ở Sóc Trăng cũng thuộc loại hơi cao: Năm chục ngàn.
Nhưng ăn xong, rồi người ta cũng gật gù: Thôi kệ, đáng !
Có món rồi, phải đặt tên.
Chị Tư nói chị suy nghĩ hơn một tháng mới ra được cái tên… không đụng hàng: Bún Gỏi Dà.
Thiệt ra chữ “dà” là chữ “và”.
Ý nói gỏi và bún, trộn vô ăn chung theo cách và hoặc lua !
Nhưng dân miền Tây nói sao viết vậy, riết rồi thành chữ dà luôn cho có duyên.
Thành ra ai không rành, đọc cái bảng hiệu cứ tưởng đây là … một loại gỏi mới !
Nghe cũng giống kiểu bún quậy ở Phú Quốc: Ăn rồi mới hiểu tại sao nó mang cái tên nghe… hơi kỳ kỳ.
Nếu có dịp ghé Sóc Trăng, bạn thử tìm ăn một tô bún gỏi dà.
Biết đâu ăn xong lại thấy…
đậm đà hương quê như câu treo trên bảng hiệu:
“Ba Xuyên có bún gỏi dà
Ăn vào sẽ thấy đậm đà hương quê.”
Ăn xong rồi bước ra khỏi quán, nhìn lại cái bảng hiệu vàng tươi đó, tui mới thấy câu này không phải … quảng cáo cho vui.
Nó nói thiệt đó.
Ăn thì biết !

Phú Đặng

Tháng Tư trên đường Trường Sơn


Tháng Tư trên đường Trường Sơn
Cung đường chúng tôi bắt đầu từ ngả tư Hiếu, nơi QL 24 gặp đường Trường Sơn Đông.
Thật ra, nói bắt đầu cũng chỉ là cách nói của người đi đường. Còn với dãy Trường Sơn thì con đường này đã nằm ở đó từ rất lâu trước khi có đường nhựa, trước khi có biển báo chỉ dẫn. Khi ấy nó chỉ là lối mòn của rừng, của chiến tranh, của những đoàn người lặng lẽ đi trong đêm...
Tháng Tư. Nắng bắt đầu phủ trên dãy Trường Sơn một màu sáng chói và khắc nghiệt.
Tháng Tư. Nắng đổ xuống mặt đường như một tấm kim loại nóng. Thời tiết ghi nhận 38 độ ở A Lưới, 39 độ ở Lao Bảo, 39,5 độ ở Phong Nha, rồi lên tới 41,9 độ ở Vinh. Thống kê thì vậy nhưng khi xe đã lăn bánh vào nhánh tây của đường Hồ Chí Minh thì những con số ấy bỗng trở nên vô nghĩa.
Ở đây, cái nóng không nằm trong bản tin thời tiết. Nó nằm trong không khí hầm hập của những khúc cua liên tiếp. Nằm trên những dốc dài leo mãi không thấy đỉnh, lúc xuống phải ghìm bằng cả tay lẫn chân phanh. Và cả trong khoảng lặng của núi rừng khi suốt nhiều chục cây số không gặp một chiếc xe nào.
Con đường vòng vèo giữa những lớp núi chồng lên nhau. Núi này vừa lùi xuống thì núi khác đã trồi lên phía trước. Có lúc nhìn xa xa, cả dãy Trường Sơn giống như những con sóng xanh đang dồn về chân trời.
Giữa cái nắng tràn lan ấy, bầu trời lại có một màu hơi lạ. Trời không xanh mà mù mù. Một lớp khói mỏng bay ngang qua các sườn núi, làm ánh sáng trở nên bạc bạc. Trong gió vương mùi khói, trong nắng mang màu khói ...
Đó là mùa đốt rẫy bên kia biên giới Lào. Người ta đốt nương cho kịp xong trước dịp Tết Bunpimay. Lửa cháy, tàn tro phủ đen trên đất, khói bay qua rừng những vệt xám lơ lửng. Đất cứ nằm yên đó, người cứ về ăn Tết, cứ vui chơi té nước cầu mưa, chờ sau cơn mưa đầu mùa sẽ trở lại trỉa hạt cho vụ mới.
Vì thế suốt dọc Trường Sơn, trong nắng tháng Tư lúc nào cũng có một mùi khói rất nhẹ. Không nồng. Chỉ đủ để người đi đường chợt nhận ra đâu đó sau những dãy núi kia đang có lửa đốt rẫy.
Khói bay qua rừng, qua núi, mang theo một mùi tro mỏng. Thứ mùi khiến người ta nhớ rằng trên dãy Trường Sơn này, đất đai từ bao đời vẫn được đánh thức mỗi mùa bằng lửa như từ thuở du canh du cư...
Con đường đi qua nhiều địa danh mà chỉ cần nghe tên cũng thấy lòng chùng xuống - thung lũng A Lưới A Sầu, đồi thịt băm, cứ điểm Làng Vây...
Bây giờ chỉ còn rừng núi khô ran và con đường mờ khói bụi. Những nơi từng là chiến trường dữ dội bỗng trở nên trầm lặng một cách khó tả. Có lúc thấy đất dưới bánh xe mình đang đi qua đã thấm quá nhiều mồ hôi và máu của những người cùng một màu da, cùng một dòng máu.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng đôi khi chỉ cần nhìn những dãy núi trùng điệp của Trường Sơn là trong lòng có một khoảng lặng rất sâu.
Con đường tiếp tục dẫn về phía bắc. Giữa hành trình đường 9 rẽ sang Lao Bảo, cửa khẩu lớn nhất sang Lào. Từ thời nhà Lê, người ta đã từng gọi nơi này bằng một cái tên cổ: ải Ai Lao.
Hôm nay xe cộ qua lại bình thường. Nhưng nếu đứng lâu một chút nhìn về phía những dãy núi mờ xa, vẫn có thể tưởng tượng ra những đoàn người ngày trước vượt rừng dưới bom đạn hết chiến dịch này đến chiến dịch khác...
Qua khỏi vùng biên, con đường HCM nhánh Tây tại Khe Sanh tiếp tục chạy giữa những lớp núi không dứt. Thỉnh thoảng bên sườn đồi lại hiện ra một vài bản nhỏ của người Ca Dong, người Cơ Tu hay làng Ho của người Vân Kiều. Vài mái nhà sàn bám vào triền dốc, đứng lặng lẽ giữa rừng.
Có những đoạn đường dài đến mức chạy hàng chục cây số không gặp một bóng người. Chỉ có gió, nắng và vài vệt phân bò nằm giữa mặt đường, những dấu hiệu giản dị cho biết trước đó đã có một đàn bò và người chăn thả lặng lẽ đi ngang qua.
Khi dừng xe lại ở Khe Gát, nhìn ngược về phía nam, dãy Trường Sơn nối tiếp nhau đến tận chân trời. Núi xanh, rừng sâu, và con đường vẫn quanh co như chưa từng biết mệt.
Chỉ có điều người đi đường thì thấy đuối, không phải vì những con dốc dài hay cái nắng tháng Tư bỏng rát. Mà vì càng đi vào Trường Sơn hướng về bắc càng thấy quá nhiều miếu thờ ven đường: Nơi nổi tiếng như hang Tám Cô, miếu Ba Cô, đền liệt sĩ ở Cà Roong; nơi chỉ là một bệ đá nhỏ với bó bông khô héo cạnh vài chai nước cùng nhúm chân nhang lạnh. Nhìn những nơi ấy mới hiểu rằng dưới con đường nóng này là bao nhiêu lớp đất cũ, dưới lớp đất ấy là ký ức của một thời…
Nắng tháng Tư vẫn đổ xuống con đường.
Khói đốt rẫy vẫn bay ngang qua những sườn núi xa.
Còn Trường Sơn thì lặng lẽ.
Lặng lẽ đến mức người đi đường đôi khi có cảm giác dãy núi này đã quen với nắng, quen với khói … quen cả với ký ức chiến tranh.
Chỉ có những miếu thờ ven đường là không quen.
Chúng vẫn đứng đó, im lặng, nhắc rằng dưới lớp đường phủ beton phủ nhựa đường nóng ran này là những lớp đất cũ. Và dưới những lớp đất ấy là xương máu người Việt vẫn còn nằm lại.

Phú Đặng

trâu chết

Chuyện tầm phào số …: Trâu chết
Bão vừa tan. Nước thượng nguồn cộng nước các hồ thủy điện xả ầm ầm. Hạ du chưa ngập đã kịp lập ban chỉ đạo chống lũ, họp hành tuyên bố rân trời…
Bỗng điện thoại reo. Chắc của đại ca nào đó, chứ ai vô họp mà dám để chuông reng.
- Mày nói sao? Báo cáo rõ coi, nói gì mà ọt ẹt vậy ? Trâu mất bảy con hử ? Kệ cha nó, của nẫu chớ của mình na, hơi đâu mà…
– …
– Sao ? Tràn qua Suối Nhum đổ vô Buôn Hóc Mót hả ? Kệ đi, còn xa trại mình mà. Đưa bò chạy lên rẫy mì của đồng bào nhốt lại…
– …
– Cái gì ? Trâu chết nữa hả ? Kệ bọn nó! Lo mấy trăm con bò của tao kìa !
– …
– Hả ? Cả bọn mấy thằng mà lo không xong, làm ăn như quần què ! Vậy là đưa qua suối, lũ cuốn mất bò hả ? Trời ơi, đồ ăn hại ! Bọn mày chết luôn đi chớ bò chết trâu mất gì nữa…
– …ò í e…
Họp tan.

Phú Đặng