Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2026

Bún cua thúi

Bún cua thúi
Xế chiều chạy trốn mây đen chụp xuống sau lưng trên QL 14. Mưa rượt còn nhanh hơn xe chạy, Pleiku đón chúng tôi bằng những hạt mưa nhỏ rồi chuyển sang mưa ào ào hung bạo. Nhóm buộc phải dừng lại tìm chỗ trú bên mái hiên một điểm thu mua nông sản...
Mưa cao nguyên chiều nay vừa to vừa lạnh, chẳng chút gì ra vẻ "ở đây buổi chiều quanh năm đầy sương" nên cũng chẳng mượt mà với tóc ướt, mắt ướt như nhạc như thơ về Pleiku... Mưa lạnh làm chúng tôi co ro nhìn màn nước trắng trời mà đoán chừng khả năng chạy về Buôn Ma Thuột nghỉ đêm là vô vọng.
Có mùi gì khá lạ xuyên qua màn mưa gợi đói bụng, gợi thèm ăn vậy cà?
Cả nhóm ngóc mũi hít hà. Một mùi ngai ngái, mằn mặn len theo gió lạnh ghé thoáng qua hàng hiên. À, thì ra từ hàng bán đồ ăn phía sau tấm bạt che mưa, vài người khách ngồi quanh bếp lửa bên bà chủ. Khói bếp hòa vào màn mưa bên ngoài, nhìn mờ mờ.
Đội mưa men theo hè phố tìm đến, chưa tới cửa đã nghe lời thân thiết:
- Vô mau đi mấy anh. Ướt át như vầy vô trong này cho ấm.
- Chị bán món gì vậy? Ở đằng xa nghe mùi là bụng cồn cào, phải đội mưa chạy lúp xúp qua đây đó.
- Ờ, món quê mùa đó mà. Hay mấy anh thử cho biết nghen?
- Ăn chớ. Mà món gì vậy chị?
- Bún... cua!
- À, bún riêu. Múc cho anh em tui mấy tô đi chị.
- Dạ, bún cua khác bún riêu nghen anh. Ở đây "nẫu" kêu là bún cua thúi. Kệ đi, ăn thử cho biết, hén?
Ông Lạc đeo khẩu trang tự hồi nảo hồi nào. Vừa nghe tới tên món ăn, ổng lẳng lặng quay lưng…
Không nói gì thêm, chị nhanh tay bỏ bún, bày lên tô các thứ gia vị, múc nước chan lên rồi đẩy ra chiếc bàn dài. Trên bàn đã có sẵn rổ rau sống.
Mùi thì khá nặng. Nước lèo ít đen hơn chè đậu đen một chút. Phía trên nổi lều bều một mảng bọt khá đặc cũng đen. Cái hột vịt với lòng trắng đã nhuộm thành màu nhờ nhợ. Vài cọng măng luộc đậm màu như măng kho... Nói chung, tất cả đều sẫm gần như đen, trừ bún và mớ da heo chiên giòn cong queo là chưa chịu đen!
Vài anh em lóng ngóng, lấm lét nhìn nhau, chưa ai dám ăn.
Tui xung phong cầm đôi đũa trộn lên. Tay còn lại cầm cái muỗng sâu lòng húp thử chút nước.
Trời! Mùi và màu thì thấy sợ thiệt, nhưng vị lại quá đậm đà. Vừa chạm đầu lưỡi, vị ngọt đã chạy tuốt xuống cổ họng, nóng ran mà dễ chịu. Húp thêm muỗng nữa, gắp miếng da heo giòn rụm kẹp cọng măng tre đắng nhẩn nhẩn... thiệt là hợp vị.
Húp thêm vài muỗng nữa, mấy ông bạn còn ngồi ngó nãy giờ cũng lần lượt cầm đũa. Chỉ chừng năm phút sau, cả dãy bàn chỉ còn nghe tiếng húp sột soạt với tiếng xuýt xoa vì nóng.
Ông Lạc quay lại không biết từ hồi nào đứng ngoài hiên ngó vô, thấy ai nấy ăn ngon lành cũng chịu hết nổi.
- Thôi, ... chị múc cho tui một tô. Ăn lỡ có chết thì cũng chết chung !
Bà chủ cười muốn nghiêng cả người:
- Thấy chưa! Tui nói rồi, mùi thì vậy chớ ăn rồi biết…
Quả thật, cái tên "bún cua thúi" nghe muốn quay đầu bỏ chạy. Nhưng cái "thúi" ấy chỉ là mùi của con cua đồng được ủ lên men theo cách người bản địa truyền lại từ đời này sang đời khác. Qua lửa, qua gia vị trong nồi nước lèo, cái mùi nồng ban đầu biến thành vị ngọt rất sâu, rất khác; thứ vị mà ăn một lần rồi lâu lâu lại nhớ.
Nhiều món ăn quê cũng vậy. Cái tên nghe mộc mạc, thậm chí... xấu xí. Hình thức cũng chẳng chìu lòng ai. Nhưng phía sau là tập quán, là khí chất, là cách người ta gìn giữ chế biến đồ ăn, rồi thành đặc sản lúc nào không hay.
Chiều Pleiku hôm ấy mưa trắng trời, không thể chạy về Buôn Ma Thuột như dự tính. Đổi lại, cả bọn gặp một tô bún mà nếu chỉ nghe tên, chắc suốt đời cũng chẳng ai dám gọi.
Nghĩ cũng lạ. Trong đời, không ít thứ giống hệt tô bún của thúi ấy. Có những người nhìn tưởng khó gần mà chơi rồi mới thấy quý. Có những vùng đất nghe qua chẳng mấy hấp dẫn, đặt chân tới lại nhớ hoài. Và có những món ăn phải vượt qua cái tên, vượt qua cái mùi ban đầu mới chạm được cái ngon nằm rất sâu bên trong.
Pleiku, một chiều mưa.

Phú Đặng

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Bún Gỏi Dà

( introduction: Người sáng tạo và đem ra giới thiệu với thiên hạ một món ăn có mùi hương khá thuần khiết, vị lại tinh tế kiểu chay mặn đề huề: Bún Gỏi Dà.
Cái tên nghe lạ quá nên trước đây đài truyền hình Vĩnh Long cũng từng mò tới phỏng vấn bà chủ-Chị Tư : “Ủa, gỏi dà là gỏi gì vậy?”
Câu trả lời xin để cuối bài cho có hồi hộp chút.
Giờ mời bà con… ngồi xuống, ngó qua một vòng mùi-vị-màu sắc, rồi tiện thể ngó luôn cái không gian quán.)

Bún Gỏi Dà
Quán mang phong vị gần giống một quán chay: Yên tĩnh, sạch sẽ, màu sắc trang nhã, ấm áp. Trên vách còn treo vài câu lục bát nghe hiền hiền, kiểu lời răn đượm mùi Phật giáo. Bước vô đây tự nhiên nói chuyện cũng nhỏ giọng lại, không dám ồn ào như mấy quán khác.
Tô bún bưng ra nhìn cũng có ý tứ phối màu. Cọng bún nhỏ nằm bơi lặn dưới lớp nước lèo trong veo. Chừng non mươi con tôm đất bóc vỏ đỏ au nằm kế bên nhúm thịt ba rọi xắt sợi mảnh trắng ngà. Chung quanh là xà lách, rau thơm xanh mát, coi thôi cũng thấy dễ chịu con mắt.
Nhìn thêm chút nữa, thấy bụng mình … bắt đầu lên tiếng !
Mùi bắt đầu dậy khi trộn lên.
À thì ra cái hồn của tô bún nằm ở chỗ này: Tương hột xay nhuyễn, trộn với đậu phộng rang giã dập lẫn lộn như hạt tấm đậu trộn thính.
Vừa trộn xong, nước lèo từ màu trong chuyển sang màu nâu nhẹ.
Mùi tương thơm dìu dịu, hơi hướng chay tịnh lấn át cái mặn thô.
Cắn con tôm đất tươi lột vỏ thấy ngọt nhẹ. Tới sợi thịt ba rọi cũng như chịu khó… hoà đồng, thấm theo vị tương.
Thành ra trong tô bún này, chay với mặn, sống chung coi bộ khá hoà thuận !
Húp thử một muỗng nước lèo.
Không phải cái kiểu ngon làm nước miếng ứa ra liền như mấy món bún mắm, bún nước lèo. Mà là cái vị nhẹ nhàng, thanh thanh. Thành ra ăn cũng tự nhiên chậm lại. Có muốn ăn nhanh cũng… thấy tiếc !
Ăn riết một hồi, tự nhiên thấy mình cũng hiền ra chút !
Ngồi vừa ăn vừa ngửi cái mùi thơm đó, tự nhiên thấy dễ chịu trong người. Cái mùi này nói thiệt, cảm thì được chớ diễn đạt ra lời cũng hơi khó.
Mà nói nhiều quá coi chừng lại làm … mất mùi !
Ăn xong, tôi mới hỏi chuyện chị Tư-bà chủ quán, cũng là người nghĩ ra món này.
Chị kể hồi trước quán chỉ bán bún với hủ tiếu chay.
Mà ở xứ Sóc Trăng, dù Phật giáo khá đông, người ta vẫn quen mấy món “quốc dân” như bún nước lèo, bún mắm hơn.
Chị Tư tu tại gia. Nhưng tu thì tu, sinh kế vẫn phải lo.
Vậy là chị bắt đầu mày mò nghĩ món mới.
Nhờ cái tánh kỹ lưỡng; bệnh nghề nghiệp còn sót lại từ hồi làm nhân viên vẽ họa đồ nên chị chọn nguyên liệu rất gắt:
Tôm phải là tôm đất còn sống, luộc rồi bóc vỏ bỏ đầu.
Thịt ba rọi phải thiệt tươi.
Rau thì lấy từ vườn, lúc nào cũng xanh mướt.
Tô bún làm ra nhìn đẹp mắt thiệt. Nhưng cái khác biệt chỉ lộ ra khi mình… trộn lên rồi ăn.
Dần dần khách biết tới nhiều hơn.
Dù giá một tô ở Sóc Trăng cũng thuộc loại hơi cao: Năm chục ngàn.
Nhưng ăn xong, rồi người ta cũng gật gù: Thôi kệ, đáng !
Có món rồi, phải đặt tên.
Chị Tư nói chị suy nghĩ hơn một tháng mới ra được cái tên… không đụng hàng: Bún Gỏi Dà.
Thiệt ra chữ “dà” là chữ “và”.
Ý nói gỏi và bún, trộn vô ăn chung theo cách và hoặc lua !
Nhưng dân miền Tây nói sao viết vậy, riết rồi thành chữ dà luôn cho có duyên.
Thành ra ai không rành, đọc cái bảng hiệu cứ tưởng đây là … một loại gỏi mới !
Nghe cũng giống kiểu bún quậy ở Phú Quốc: Ăn rồi mới hiểu tại sao nó mang cái tên nghe… hơi kỳ kỳ.
Nếu có dịp ghé Sóc Trăng, bạn thử tìm ăn một tô bún gỏi dà.
Biết đâu ăn xong lại thấy…
đậm đà hương quê như câu treo trên bảng hiệu:
“Ba Xuyên có bún gỏi dà
Ăn vào sẽ thấy đậm đà hương quê.”
Ăn xong rồi bước ra khỏi quán, nhìn lại cái bảng hiệu vàng tươi đó, tui mới thấy câu này không phải … quảng cáo cho vui.
Nó nói thiệt đó.
Ăn thì biết !

Phú Đặng

Tháng Tư trên đường Trường Sơn


Tháng Tư trên đường Trường Sơn
Cung đường chúng tôi bắt đầu từ ngả tư Hiếu, nơi QL 24 gặp đường Trường Sơn Đông.
Thật ra, nói bắt đầu cũng chỉ là cách nói của người đi đường. Còn với dãy Trường Sơn thì con đường này đã nằm ở đó từ rất lâu trước khi có đường nhựa, trước khi có biển báo chỉ dẫn. Khi ấy nó chỉ là lối mòn của rừng, của chiến tranh, của những đoàn người lặng lẽ đi trong đêm...
Tháng Tư. Nắng bắt đầu phủ trên dãy Trường Sơn một màu sáng chói và khắc nghiệt.
Tháng Tư. Nắng đổ xuống mặt đường như một tấm kim loại nóng. Thời tiết ghi nhận 38 độ ở A Lưới, 39 độ ở Lao Bảo, 39,5 độ ở Phong Nha, rồi lên tới 41,9 độ ở Vinh. Thống kê thì vậy nhưng khi xe đã lăn bánh vào nhánh tây của đường Hồ Chí Minh thì những con số ấy bỗng trở nên vô nghĩa.
Ở đây, cái nóng không nằm trong bản tin thời tiết. Nó nằm trong không khí hầm hập của những khúc cua liên tiếp. Nằm trên những dốc dài leo mãi không thấy đỉnh, lúc xuống phải ghìm bằng cả tay lẫn chân phanh. Và cả trong khoảng lặng của núi rừng khi suốt nhiều chục cây số không gặp một chiếc xe nào.
Con đường vòng vèo giữa những lớp núi chồng lên nhau. Núi này vừa lùi xuống thì núi khác đã trồi lên phía trước. Có lúc nhìn xa xa, cả dãy Trường Sơn giống như những con sóng xanh đang dồn về chân trời.
Giữa cái nắng tràn lan ấy, bầu trời lại có một màu hơi lạ. Trời không xanh mà mù mù. Một lớp khói mỏng bay ngang qua các sườn núi, làm ánh sáng trở nên bạc bạc. Trong gió vương mùi khói, trong nắng mang màu khói ...
Đó là mùa đốt rẫy bên kia biên giới Lào. Người ta đốt nương cho kịp xong trước dịp Tết Bunpimay. Lửa cháy, tàn tro phủ đen trên đất, khói bay qua rừng những vệt xám lơ lửng. Đất cứ nằm yên đó, người cứ về ăn Tết, cứ vui chơi té nước cầu mưa, chờ sau cơn mưa đầu mùa sẽ trở lại trỉa hạt cho vụ mới.
Vì thế suốt dọc Trường Sơn, trong nắng tháng Tư lúc nào cũng có một mùi khói rất nhẹ. Không nồng. Chỉ đủ để người đi đường chợt nhận ra đâu đó sau những dãy núi kia đang có lửa đốt rẫy.
Khói bay qua rừng, qua núi, mang theo một mùi tro mỏng. Thứ mùi khiến người ta nhớ rằng trên dãy Trường Sơn này, đất đai từ bao đời vẫn được đánh thức mỗi mùa bằng lửa như từ thuở du canh du cư...
Con đường đi qua nhiều địa danh mà chỉ cần nghe tên cũng thấy lòng chùng xuống - thung lũng A Lưới A Sầu, đồi thịt băm, cứ điểm Làng Vây...
Bây giờ chỉ còn rừng núi khô ran và con đường mờ khói bụi. Những nơi từng là chiến trường dữ dội bỗng trở nên trầm lặng một cách khó tả. Có lúc thấy đất dưới bánh xe mình đang đi qua đã thấm quá nhiều mồ hôi và máu của những người cùng một màu da, cùng một dòng máu.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng đôi khi chỉ cần nhìn những dãy núi trùng điệp của Trường Sơn là trong lòng có một khoảng lặng rất sâu.
Con đường tiếp tục dẫn về phía bắc. Giữa hành trình đường 9 rẽ sang Lao Bảo, cửa khẩu lớn nhất sang Lào. Từ thời nhà Lê, người ta đã từng gọi nơi này bằng một cái tên cổ: ải Ai Lao.
Hôm nay xe cộ qua lại bình thường. Nhưng nếu đứng lâu một chút nhìn về phía những dãy núi mờ xa, vẫn có thể tưởng tượng ra những đoàn người ngày trước vượt rừng dưới bom đạn hết chiến dịch này đến chiến dịch khác...
Qua khỏi vùng biên, con đường HCM nhánh Tây tại Khe Sanh tiếp tục chạy giữa những lớp núi không dứt. Thỉnh thoảng bên sườn đồi lại hiện ra một vài bản nhỏ của người Ca Dong, người Cơ Tu hay làng Ho của người Vân Kiều. Vài mái nhà sàn bám vào triền dốc, đứng lặng lẽ giữa rừng.
Có những đoạn đường dài đến mức chạy hàng chục cây số không gặp một bóng người. Chỉ có gió, nắng và vài vệt phân bò nằm giữa mặt đường, những dấu hiệu giản dị cho biết trước đó đã có một đàn bò và người chăn thả lặng lẽ đi ngang qua.
Khi dừng xe lại ở Khe Gát, nhìn ngược về phía nam, dãy Trường Sơn nối tiếp nhau đến tận chân trời. Núi xanh, rừng sâu, và con đường vẫn quanh co như chưa từng biết mệt.
Chỉ có điều người đi đường thì thấy đuối, không phải vì những con dốc dài hay cái nắng tháng Tư bỏng rát. Mà vì càng đi vào Trường Sơn hướng về bắc càng thấy quá nhiều miếu thờ ven đường: Nơi nổi tiếng như hang Tám Cô, miếu Ba Cô, đền liệt sĩ ở Cà Roong; nơi chỉ là một bệ đá nhỏ với bó bông khô héo cạnh vài chai nước cùng nhúm chân nhang lạnh. Nhìn những nơi ấy mới hiểu rằng dưới con đường nóng này là bao nhiêu lớp đất cũ, dưới lớp đất ấy là ký ức của một thời…
Nắng tháng Tư vẫn đổ xuống con đường.
Khói đốt rẫy vẫn bay ngang qua những sườn núi xa.
Còn Trường Sơn thì lặng lẽ.
Lặng lẽ đến mức người đi đường đôi khi có cảm giác dãy núi này đã quen với nắng, quen với khói … quen cả với ký ức chiến tranh.
Chỉ có những miếu thờ ven đường là không quen.
Chúng vẫn đứng đó, im lặng, nhắc rằng dưới lớp đường phủ beton phủ nhựa đường nóng ran này là những lớp đất cũ. Và dưới những lớp đất ấy là xương máu người Việt vẫn còn nằm lại.

Phú Đặng

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Chụp đìa

Chụp đìa
Cuối năm về U Minh, lúa đã gặt xong, đầu mùa khô nước rút đã ráo mặt ruộng để lại đồng trơ gốc rạ vàng khô dưới nắng. Cá ngoài đồng đã lần theo lạch nước sình mà lục đục tìm đường thoát vô đìa, quẫy nhẹ dưới làn nước đục, nghe động là tản ra liền.
Đìa nằm đó, trũng sâu, ôm nước như ôm của để dành. Người trong xóm biết chờ, nên không ai vội. Cứ để cá ăn no, lớn thêm chút nữa. Chờ đến chừng tháng Chạp, khi gió chướng bắt đầu thổi se se thì rủ nhau ra chụp đìa.
Bữa đó, đìa lặng. Mặt nước đục ngầu, thỉnh thoảng gợn lên mấy vòng tròn nhỏ rồi tan mất. Bà con trong xóm làm vần công thả tấm lưới lớn phủ kín mặt đìa, mép lưới chìm xuống dưới mực nước ghim bằng nẹp tre vào bờ, vừa đủ chặt để giữ, vừa đủ hở cho cá tưởng đây là đường thoát. Xong xuôi, cả nhóm ngồi tụ lại hút thuốc chờ. Không ai nói lớn. Chỉ nghe tiếng gió lùa qua lau sậy quanh đìa.
Nước trong đìa động. Cá bắt đầu ngộp, cố trồi lên thở. Bị lưới phủ kín, tụi nó len lỏi tìm mấy khe hở sát bờ, lưng đen trườn qua trườn lại dưới lớp lưới, nhìn rõ mồn một. Chừng đâu ngoài hơn một tiếng, cá lớn cá lỡ cỡ đã ngoi được qua mép lưới bơi quẫy chòi đạp phía trên tấm lưới, lúc đó người ta mới ghim thêm nẹp tre cho sát, khóa luôn đường rút.
“ Rồi đó!”, ai đó nói khẽ. Lưới được kéo lên từ từ. Mặt nước giao động. Cá lóc, cá trê quẫy mạnh, đuôi đập nghe bạch bạch. Cá rô, cá sặc rằn nhảy xoi xói, vảy bạc lấp lánh dưới nắng xế xiên xiên. Cá lớn mắc lưới hết, cá nhỏ lọt qua thì thôi, để đìa còn cá, năm sau còn sinh sôi nẩy nở đặng mà chụp tiếp.
Cá được múc vô cần xé, để đầy một góc bờ. Gió chướng thổi lồng lộng, mang theo mùi bùn non ngai ngái. Mấy đứa nhỏ lội bì bõm quanh đìa, tay cầm vợt, mắt dán xuống nước, bắt hôi mớ cá nhỏ ngộp thở hả họng bơi lờ đờ ven bờ. Tiếng nói lan ra, vang dội quanh đìa, tiếng cười giòn tan tới tận mấy công ruộng xa.
Chủ đìa lựa mấy con cá lóc bự nhứt, xiên cây, nướng trui liền tại chỗ. Lửa rơm bốc lên, da cá cháy xèo xèo, mỡ nhỏ xuống nghe lép bép. Mùi cá nướng quyện với mùi rơm khét, thơm tới nỗi ai đứng gần cũng phải nuốt nước miếng. Trên bờ, tàu lá chuối trải ra xanh mướt, rau rừng mọc dọc bờ kinh bứt sẵn tươi rói.
Cá chín, cạo lớp cháy đen bên ngoài, thịt trắng phau, chấm muối ớt giã tay, cay xé lưỡi. Rượu đế trong can rót ra chén, chuyền tay nhau, uống một hớp là ấm ran ngực. Người lớn ngồi kể chuyện ruộng mùa, chuyện năm rồi được mất. Mấy đứa nhỏ vừa ăn vừa cười, miệng lem luốc tro than.
Chiều cuối năm, nắng tắt chậm sau rặng tràm. Gió chướng thổi qua mang theo mùi cá nướng, mùi rơm, mùi đất ẩm. Không ai nói ra mà ai cũng biết: Tết đang về rất gần.
Chụp đìa đâu chỉ để bắt cá. Đó là lúc cả xóm gom lại, chia nhau con cá, hùn nhau tiếng cười, và giữ giùm nhau chút hương vị quê nhà. Giữ mùi vị dù có đi xa, chỉ cần nhớ lại thôi là đã thấy lòng mềm nhũn...
Tất cả cảm xúc:
MaiKhoi Nguyen, Hoang Nguyen và 42 người khác

Phú Đặng

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Góc khuất nào âm thầm giết chết bạn tôi

Góc khuất nào đã âm thầm cố giết bạn bè tôi?

   Tuần trước, nghe tin một người bạn từ thuở học trò vừa chính thức gia nhập đội quân bị điều trị ung thư !
   Gọi điện hỏi thăm, bạn cười buồn, rồi đáp lại chỉ biết nói vài câu an ủi lấy lệ… Câu cuối cùng cả hai chúng tôi vô tình đều buộc miệng thốt ra, như một chân lý cay đắng: “Trời kêu ai nấy dạ!”

   Tuần này, lại thêm một tin chẳng vui nữa: Một người bạn khác cũng phải đi vô nơi không hề muốn, vừa lấy sinh thiết xong, cho về nhà đợi kết quả. Chờ đợi trong thấp thỏm lo âu, le lói một tia hy vọng mong manh… hay đã sang bên kia ranh giới ?

    Góc khuất nào đã âm thầm cố giết bạn bè tôi?

   Tuần trước, nghe tin một người bạn từ thuở học trò vừa chính thức gia nhập đội quân bị điều trị ung thư !
   Gọi điện hỏi thăm, bạn cười buồn, rồi đáp lại chỉ biết nói vài câu an ủi lấy lệ… Câu cuối cùng cả hai chúng tôi vô tình đều buộc miệng thốt ra, như một chân lý cay đắng: “Trời kêu ai nấy dạ!”

   Tuần này, lại thêm một tin chẳng vui nữa: Một người bạn khác cũng phải đi vô nơi không hề muốn, vừa lấy sinh thiết xong, cho về nhà đợi kết quả. Chờ đợi trong thấp thỏm lo âu, le lói một tia hy vọng mong manh… hay đã sang bên kia ranh giới ?

    Mấy năm trở lại đây, hầu như năm nào cũng vậy chúng tôi lại âm thầm "điểm danh" những người bạn không còn nữa… Ra đi vì K là cách gọi né tránh mà người nhà hay dùng để đỡ đau lòng hơn chăng khi không phải nói thẳng “ bị ung thư"?
   Thời chiến hòn tên mũi đạn có biết chừa ai đâu, bom rơi đạn lạc cũng làm người ta chết nhiều, nhưng còn hiểu được lý do. Thời bình, cái chết đến lặng lẽ, đều đặn, nhẫn tâm qua từng lần đi khám bịnh. Cái chết được định danh bằng một chữ cái đơn độc: K !
  Vì sao bạn bè tôi có quá nhiều người chết cùng một căn bịnh như thế?
    Vì sao thế hệ chúng tôi phải mang kiếp nạn này?  
   Ai đã góp tay mang về gieo rắc nhiều độc tố giết dần bạn bè tôi? 

   Bạn bè tôi, những người phải sống đau đớn vật vã với thuốc, với xạ trị hoá trị, thân hình tàn tạ cộng thêm nỗi lo cả nhà trắng tay vì thuốc, họ sống một cách nào đó xét cho cùng còn khốn khổ hơn cả người đã khuất: Bản án K, được ký sẵn chỉ còn chờ ngày tuyên! Trong khi ấy, gia đình kiệt quệ, hy vọng mong manh, cả nhà đi nhẹ nói khẽ mà trong lòng ai cũng phải gồng mình gượng cười để hy vọng người khác không gục ngã!
   Bạn bè tôi cả một thế hệ khốn khổ, phải sống như thể đang chuộc lỗi cho điều gì đó không hề do mình gây ra.

“Bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi/ năm ba đứa bạt phương trời…  “
   Đất này rồi sẽ còn được mấy ai không bị chết vì K ? 
  Tiền nhân ơi, e rằng đám hậu bối chúng con … không thể vượt qua !Mấy năm trở lại đây, hầu như năm nào cũng vậy chúng tôi lại âm thầm "điểm danh" những người bạn không còn nữa… Ra đi vì K là cách gọi né tránh mà người nhà hay dùng để đỡ đau lòng hơn chăng khi không phải nói thẳng “ bị ung thư"?
   Thời chiến hòn tên mũi đạn có biết chừa ai đâu, bom rơi đạn lạc cũng làm người ta chết nhiều, nhưng còn hiểu được lý do. Thời bình, cái chết đến lặng lẽ, đều đặn, nhẫn tâm qua từng lần đi khám bịnh. Cái chết được định danh bằng một chữ cái đơn độc: K !
  Vì sao bạn bè tôi có quá nhiều người chết cùng một căn bịnh như thế?
    Vì sao thế hệ chúng tôi phải mang kiếp nạn này?  
   Ai đã góp tay mang về gieo rắc nhiều độc tố giết dần bạn bè tôi? 

   Bạn bè tôi, những người phải sống đau đớn vật vã với thuốc, với xạ trị hoá trị, thân hình tàn tạ cộng thêm nỗi lo cả nhà trắng tay vì thuốc, họ sống một cách nào đó xét cho cùng còn khốn khổ hơn cả người đã khuất: Bản án K, được ký sẵn chỉ còn chờ ngày tuyên! Trong khi ấy, gia đình kiệt quệ, hy vọng mong manh, cả nhà đi nhẹ nói khẽ mà trong lòng ai cũng phải gồng mình gượng cười để hy vọng người khác không gục ngã!
   Bạn bè tôi cả một thế hệ khốn khổ, phải sống như thể đang chuộc lỗi cho điều gì đó không hề do mình gây ra.

“Bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi/ năm ba đứa bạt phương trời…  “
   Đất này rồi sẽ còn được mấy ai không bị chết vì K ? 
  Tiền nhân ơi, e rằng đám hậu bối chúng con … không thể vượt qua !

Phú Đặng

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Chuyện tầm phào số 12 : Thép - Đã - Tôi - Thế - Đấy !

Trường có ông thầy, chánh quán xứ cầu Sông, đi tập kết về được cho dạy môn chính trị Mác-Lê. Thầy được phân một buồng ở khu gia binh cũ gần sân bay bỏ hoang, cũng nằm trong nội hạt. Thầy chiến đấu bền bỉ từ khoá đầu đến tận khoá mười mấy, chính xác bao nhiêu thì không nhớ rõ, chỉ biết lúc chúng tôi ra trường lâu rồi, thầy vẫn còn ... giảng.
Ngoài nghề tay phải là dạy chính trị, thầy còn có nghề tay trái là “bao thầu trọn gói”. Từ chụp hình làm thẻ các lớp, hình khai giảng khoá mới, hình kỷ niệm ra trường đến các thứ tứ lung tung không biết gọi tên là gì cho phải phép.
Đám cưới, đại hội công đoàn, thanh niên, phụ nữ ... thầy ôm trọn, không chừa một mảng đời sống quần chúng nào.
Phương tiện tác nghiệp là một cái máy Ze-nít, xuất xưởng từ cái thuở mà Sa hoàng Ni-cô-lai đệ nhị hình như ... còn đang suy nghĩ coi có nên thoái vị hay chưa !
Còn nghề tay phải là dạy chính trị thì khỏi phải nói. Là của hiếm.
Hiếm từ lý luận cho tới hô khẩu hiệu.
Hai mươi năm sống cùng nhân dân, thêm mấy năm được làm cán bộ sống cận kề thủ đô, thầy đủ tự tin đủ sức “bao giàn” hết các lớp, năm này qua năm khác. Thành thử bài giảng của thầy đanh thép, giàu sức chiến đấu, lý lẽ sắc bén như mác như lê. Câu chữ thuộc làu làu, tuôn ra ào ào như cái ra-đi-ô bị kẹt vô-lum, vặn xuống không được mà tắt cũng ... không xong.
Ngoại hình thầy cũng rất ... có lập trường.
Tóc cắt trắng xát phía dưới ót và hai bên mang tai, xốc thẳng đứng lên bằng một đường tông-đơ sắt lẹm. Phần trên được định hình bằng một nhát kéo cắt xéo, trông như lưỡi mác nghiêng bên đầu.
Bữa nào muốn khoe vầng trán cao bóng lưởng, thầy thoa dầu, chải ngược tóc ra sau.
Nhìn từ phía ót hao hao Hít-le.
Nhìn chính diện, nhứt là buổi chớm đông có gió mùa, thầy diện bộ đại cán ục ịch, trông lại giống Mao chủ tịch .
Một hôm, giữa lúc thầy đang thao thao bất tuyệt về ba nguyên lý của phép biện chứng duy vật, bốn bước đi lịch sử thời kỳ quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa vân vân và vân vân...
Đúng lúc cao trào, thằng P. giơ tay xin hỏi.
Đôi mắt nó rực sáng.
Đôi tai vểnh lên, nghe như nuốt từng lời của thầy. Nó đứng dậy rất lễ phép, thưa gởi một hồi lâu lắc, hơi cà lăm nhưng nêu đại ý thì rõ ràng :
- Thưa thầy, chúng em chưa hình dung nổi. Xin thầy diễn tả sơ sơ về thiên đường xã hội chủ nghĩa khi thành công, cụ thể nó ra làm sao, để bọn em tưởng tượng được chút nào ra chút ấy, được không ạ ?
Thầy gật gù
Gật rất lâu
Gật với vẻ hài lòng của một giáo sư vừa được hỏi đúng trọng tâm tư tưởng.
Thầy nói, câu hỏi này lớn, cần nghiên cứu nghiêm túc, và hẹn... tuần sau trả lời.
Một tuần trôi qua
Đến giờ chính trị, tuy chưa từng đến tận nơi nhưng thầy biết tuốt mọi chỗ được nghe nói. Thầy lại thao thao bất tuyệt tả cảnh sắc và con người đang tiến lên, nào là Mát-cơ-va, nào là Cu-ba, nào là Bắc-kinh.
Cho tới cuối giờ, thầy giữ lời.
Cả lớp im phăng phắt.
Thầy nói, chậm rãi, rõ ràng, từng ý một :
Hãy hình dung đi. Khi xã hội chủ nghĩa thành công thì :
- Của cải như không khí
- Con người như thánh hiền
- Cảnh vật như thần tiên .
Thề đó, tui ghi lại y chang, không thiếu không thừa. Chỉ hơi lo:
Ngày ấy, chắc phải cần rất ...rất nhiều giấy để vẽ.